Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

Sự thật về người chuyển giới ít được dư luận nhắc đến

Nguyên nhân chuyển giới

Thuật ngữ chuyển giới hay giới tính có hàm nghĩa rộng hơn so với đề cập và người chuyển giới là sản phẩm của quá trình này.Nó bao gồm hàng loạt các đặc điểm nhận dạng và miêu tả giới nằm trong suy nghĩ của đại phần đông chúng ta, mà phần đông nghĩ rằng chỉ có hai giới tính chính là nam hoặc nữ.

Theo Bách khoa toàn thư mở (VWO), người chuyển giới (Transgender) hay còn gọi là hoán tính, là thể tâm lý giới tính của một người không ăn nhập với giới tính của thân. chả hạn, một người sinh ra với thân nam nhưng cảm nhận giới tính bản thân là nữ hoặc một người sinh ra với cơ thể là nữ nhưng lại cảm nhận giới tính của mình là nam.Cảm nhận này không phụ thuộc vào việc người đó có làm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay chưa.

Trong trường hợp người chuyển giới mà thực hiện giải phẫu theo giới tính mong muốn gọi là người chuyển giới đã qua giải phẫu. Người chuyển giới hoàn toàn độc lập với khuynh hướng tình dục. Họ có thể thuộc khuynh hướng dục tình dị tính, đồng tính hoặc song tính luyến ái... một số khác có thể coi xét định hướng tình dục thường nhật không đầy đủ hoặc không ứng dụng đối với họ.

Sự thật về người chuyển giới ít được dư luận nhắc đến Christine Jorgenson bệnh nhân giải phẫu chuyển giới trước nhất của Mỹ

Có hai dạng chuyển giới chính, nam sang nữ và nữ sang nam. Đứng trên góc độ thiên hướng tính dục, có thể phân chia thành người chuyển giới đồng tính. Ví dụ chuyển giới từ nam sang nữ và chỉ yêu nữ giới, người chuyển giới song tính như người chuyển giới từ nam sang nữ và có thể yêu cả nam giới và phụ nữ hay người chuyển giới dị tính như người chuyển giới từ nữ sang nam và chỉ yêu phụ nữ.

Người chuyển giới là thể tâm lý giới tính của một người không thích hợp với giới tính của thân bản thân họ

Năm 1980, hiện tượng chuyển giới (Transgenderism) đã được Hiệp hội Tâm thần học Mỹ (APA) chính thức phân loại là một dạng bệnh Tâm thần, có tên rối loạn định dạng giới (GID hay Gender Identity Disorder). ước lượng, có khoảng 0,005% - 0,014% nam giới và 0,002% - 0,003% đàn bà được chẩn đoán mắc chứng GID dựa trên các tiêu chí chẩn đoán ngày nay. Rối loạn định dạng giới nếu không được phát hiện và chữa trị tâm lý trên sẽ trở nên mạnh hơn, bệnh nhân sẽ có những hành vi nhằm chối bỏ giới tính của thân thể như y phục, phát ngôn... như người khác giới và muốn được tiến hành giải phẫu chuyển đổi giới tính.

Cũng theo VWO, tại Việt Nam, pháp luật hiện chưa cho phép người chuyển giới được phẫu thuật chuyển đổi giới tính. luật pháp hiện hành mới chỉ cho phép thực hành phẫu thuật xác định lại giới tính trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình xác thực mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính để đảm bảo chính xác trong hộ tịch, thủ tục nhằm công nhận giới tính và đổi thay những giấy má tùy thân cấp thiết. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện chỉ cho phép thực hành giải phẫu xác định lại giới tính đối với người liên giới tính mà không cho phép người chuyển giới được phẫu thuật chuyển đổi giới tính.Nếu một người sinh ra đã hoàn thiện về giới tính việc chuyển đổi giới tính tại Việt Nam chẳng thể thực hiện được. Quy định trên cũng đồng nghĩa nếu người chuyển giới ra nước ngoài để giải phẫu chuyển đổi giới tính thì khi về nước, việc xác định lại giới tính cho người đó cũng như điều chỉnh hộ tịch, các giấy má tùy thân như giấy khai sinh, chứng minh quần chúng, hộ chiếu, hộ khẩu, các giấy má tài sản khác can hệ cho người đó cũng chẳng thể thực hiện được.

sự thực về chuyển giới ít được nhắc đến

Một, chuyển giới là cực hiếm, điều này không chỉ ở một nhà nước như Mỹ, hay Nhật mà còn ở cả trên thế giới, do vậy nhóm người này được xem là thiểu số nhỏ nhất trong cả nước. Theo một nghiên cứu năm 2016 tại Mỹ, tham khảo thêm các cuộc điều tra diễn ra trong 9 năm trước, các nhà khoa học phát hiện thấy: Thứ nhất, tỷ lệ người chuyển giới đang tăng lên theo thời kì. Thứ hai, con số vẫn còn khôn xiết nhỏ, chỉ khoảng 1/250 người lớn, tương đương 0,4%. Tuy nhỏ, song lại rất nhiều người quan tâm đến cuộc sống của nhóm người chuyển giới.

Việt Nam hiện mới chỉ cho phép phẫu thuật xác định lại giới tính để đảm bảo quyền lợi cho người trong cuộc theo pháp luật quy định

Hai, tỷ lệ người chuyển giới mắc HIV cao: Theo Trung tâm Kiểm soát & phòng dịch bệnh Mỹ (CDC), có một sự thực liên can giữa chuyển giới và HIV. Tổng thể, người chuyển giới có khả năng chẩn đoán mới mắc căn bệnh này cao hơn gấp 3 lần so với mức bình quân dân số chung. Sự kỳ thị và phân biệt đối, các nhân tố ảnh hưởng đến người chuyển giới cao hơn nhiều so với các nhóm khác và được xem là lý do khiến tỷ lệ mắc bệnh của nhóm này bị ảnh hưởng. Trong một nghiên cứu, 84% trong số những người được chẩn đoán mắc HIV là nữ giới chuyển giới, trong khi đó tỷ lệ này ở nam giới là 15% . Con số này bao gồm cả 14% phụ nữ chuyển giới đã từng có HIV, riêng người da đen chiếm gần một nửa, nhất là ở miền nam nước Mỹ.

Ba, đàn bà chuyển giới vẫn được tham dự thi đấu thể thao quốc tế: Khác với quan niệm của nhiều người cho rằng những người chuyển giới gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, thậm chí còn bị miệt thị, nhưng Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) lại có ý kiến khác. Theo đó, kể từ năm 2003, IOC đã cho phép người chuyển giới dự các môn thi đấu thể thao cấp quốc tế, kể cả phụ nữ.IOC có những lệ luật rất cụ thể, đặc biệt là soát hàm lượng testosterone ở các vận động viên nữ.

Sở dĩ có chuyện này là do gần đây dư luận xốn xang về trường hợp nữ VĐV điền kinh chuyển giới người Nam Phi Caster Semenya bị cấm thi đấu chỉ vì cơ thể có hàm lượng testosterone cao hơn so với nhóm nữ giới thường nhật. Từ việc Semenya bị cấm thi đấu dẫn đến bàn cãi về câu hỏi như thế nào được coi là... phụ nữ. Semenya từng là nhà vô địch Olympic 2012 và 2016 nội dụng chạy 800 mét cũng như 3 huy chương vàng thế giới thế nhưng VĐV sinh năm 1991 này lại bị ngờ về giới tính.

Sự thật về người chuyển giới ít được dư luận nhắc đến Nữ VĐV điền kinh chuyển giới người Nam Phi Caster Semenya

Bốn, nhiều người ăn năn sau giải phẫu: Giống như những vấn đề chuyển giới hệ trọng đến sức khỏe, và không có đủ thông tin tham vấn, tham khảo nên nhiều người cảm thấy ăn năn sau phẫu thuật. Theo thưa của các thầy thuốc phẫu thuật, các bệnh nhân thường quay trở lại với họ trong nhiều tháng hoặc nhiều năm sau khi giải phẫu, đề nghị đảo trái lại tình thế ở mức càng tối đa càng tốt. Trong một số nghiên cứu thực hành gần đây, cứ 20 người chuyển giới thì có 1 người hối hận sau phẫu thuật bởi hiệu quả không như mong muốn. Một số người tiết lộ, động lực thúc đẩy quyết định giải phẫu chính là ảnh hưởng của nội tiết tố, những người khác thì ca cẩm về dịch vụ, thiếu liệu pháp để họ tuyển lựa đành phải chấp nhận giải phẫu.

Tại Mỹ, tỷ lệ người chuyển giới là 1/250 người lớn

Năm, phẫu thuật chuyển giới không hề rẻ: Trong số những phương án lựa chọn như dùng thuốc thay thế hormone, cải dạng... phẫu thuật được xem là lựa chọn cực đoan, vì nó không có sẵn, phổ quát và tốn kém. Thứ nhất, gần như toàn bộ các gói bảo hiểm đều không chi trả cho dạng phẫu thuật này, hoặc nếu có cũng không đáng là bao. Thứ hai, uổng thực ở Mỹ thường trên ngưỡng giá 100.000 USD, chưa kể những quy định nghiêm ngặt khác như ép ngực ở phụ nữ nếu chuyển đổi thành đàn ông...

Sáu, một số hệ lụy từ chuyển giới: Như tỷ lệ bị giết của nhóm người chuyển giới tăng cao. Ví dụ, năm 2018 tại Mỹ, có ít nhất 26 vụ giết người chuyển giới, phần đông là phụ nữ chuyển giới da đen; riêng năm 2019 cho đến nay đã có chí ít 21 vụ giết người xảy ra. Theo một số nghiên cứu, có đến 10% người chuyển giới cho biết họ bị tấn công.Ngoài là nạn nhân của kẻ giết người, các biến chứng phẫu thuật cũng không hề nhỏ, đặc biệt là các biến chứng tiết niệu. Một nghiên cứu vào năm 2017 phát hiện thấy hơn 33% người chuyển giới kêu ca về vấn đề y tế, song do kinh nghiệm của chuyên môn nên đã hạn chế được các biến chứng phẫu thuật. Tuy nhiên, vẫn có tới 11% bệnh nhân phải qua phẫu thuật bổ sung ngoài dự kiến do chảy máu nhiều, nhất là các ca phẫu thuật chuyển đổi từ nam sang nữ.

Có hơn 33% người chuyển giới phàn nàn về các biến chứng sau phẫu thuật

Tiếp đến là nạn tự tận của người chuyển giới cũng cao hơn so với nhóm dân số chung. Cụ thể, có đến 43% số người phẫu thuật chuyển giới mỏng họ đã gắng tự sát ít nhất một lần trong đời. can hệ đến bắt nạt hoặc bạo lực, có gần 30 % nhóm người trẻ tuổi, thanh thiếu niên cho biết họ cảm thấy không an toàn khi đi du lịch hoặc khi đi học.

Bảy, phẫu thuật chuyển giới có lịch sử thượng cổ hơn giả định: dù rằng là một xu thế khá mới, song giải phẫu chuyển giới, hoặc phẫu thuật xác định lại giới tính có từ rất lâu. Ca trước hết giải phẫu cắt bỏ vú vào năm 1926, được thực hiện bởi phòng khám nức tiếng của nhà tình dục học người Đức Magnus Hirschfeld. Ngoài phẫu thuật loại bỏ bầu ngực, ca giải phẫu tạo hình âm đạo trước nhất cũng được thực hiện vào 1 năm sau đó, đáng tiếc, bệnh nhân đã tử vong. Người Mỹ trước nhất sang trọng phẫu thuật chuyển đổi giới tính là Christine Jorgenson vào năm 1952. Ca giải phẫu này do bác sĩ Christian Hamburger người Đan Mạch thực hiện và được xem là bệnh nhân giải phẫu chuyển giới trước tiên ở Mỹ, sau đó người phụ nữ đổi tên, mang tên vị thầy thuốc nói trên để tỏ lòng tôn vinh khả năng dao kéo của ông.

BS. BÍCH KIM

( Theo LC- 11/2019 )

0 nhận xét:

Đăng nhận xét