Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

Co thắt thực quản có chữa được không?

Bệnh nhân bị co thắt TQ thường lo âu và phàn nàn đau ngực xảy ra mỗi khi nuốt thức ăn, làm việc quá sức và đổi thay một số tư thế khăng khăng, thường được diễn đạt như có một vật đè nặng lên vùng sau xương ức..

Co thắt thực quản lan toả (Diffuse esophageal spasm - DES) là thuật ngữ dùng để xác định tình trạng rối loạn vận động của cơ trơn TQ với đặc điểm là co thắt không đồng đều, có nhiều cơn co tự phát và co do nuốt gây ra, có song song với lúc bắt đầu, biên độ lớn, dài lâu và xảy ra lặp lại, đây là bệnh lý thực quản hiếm gặp được Osgood miêu tả lần đầu tiên vào năm 1889.

trình diễn.# lâm sàng

duyên cớ và cơ chế bệnh sinh của DES chưa được biết rõ ràng; triệu chứng mơ hồ và khó chẩn đoán nên thường không được điều trị kịp thời.

trình diễn.# ban sơ ở bệnh nhân bị DES giống như các bệnh nhân đau ngực không rõ nguyên do. Bệnh nhân bị DES thường lo lắng và kêu ca đau ngực xảy ra mỗi khi nuốt thức ăn, làm việc quá sức và thay đổi một số phong độ một mực, thường được miêu tả như có một vật đè nặng lên vùng sau xương ức, cường độ thay đổi tuỳ lúc và cơn đau này lan toả từ cùng dưới hàm xuống cánh tay hoặc là đau lan ra vùng sau xương bả vai. Những triệu chứng thường tăng lên những lúc bao tay nhưng giảm khi tập thể dục.

Triệu chứng gồm: nuốt nghẹn, ợ nóng và đau ngực không liên quan đến tim mạch. Dấu hiệu tắc TQ thường không xảy ra. Một số bệnh nhân có biểu lộ trào ngược nước bọt từ trong TQ trong cơn co thắt của bệnh DES. Triệu chứng của DES có thể tăng lên khi ăn thức ăn và nước uống lạnh và có thể gây trào ngược dạ dày - thực quản (DD-TQ) nhưng hầu hết bệnh nhân DES không có trào ngược. Trong tiền sử, bệnh nhân có thể bị hội chứng ruột kích thích, co thắt tâm vị hoặc rối loạn một số chức năng dạ dày-ruột khác.

Hình ảnh thực quản bị co thắt.

Hình ảnh thực quản bị co thắt.

Làm gì để chẩn đoán?

Chụp TQ có Barite nhưng ở bệnh nhân DES rất khó chụp được hình ảnh tiêu biểu. điển hình là hình ảnh TQ lượn xoắn giống ruột già hay hình chuỗi hạt, duyên cớ bởi sự co thắt từng đoạn của lớp cơ vòng TQ. Bệnh lý nhiều túi thừa của TQ cùng với triệu chứng đau thắt có thể là dấu hiệu gợi ý đến DES.

Đo áp lực TQ: sức ép được đo từng inch một (1 inch=4mm) hoặc dùng ballon có chia độ đi xuống dạ dày. Kết quả ghi lại xác thực tình trạng hoạt động của cơ TQ từng vùng. thường nhật, áp lực TQ khi nuốt là 15-25mmHg (không bao giờ quá 45mmHg). áp lực tại vùng co thắt có thể lên rất cao từ 225 - 430mmHg. Việc ghi lại nhu động của TQ bằng đo sức ép có thể chẩn đoán bệnh DES với đặc điểm: co thắt với biên độ cao, lặp lại và kéo dài.

Nội soi ống mềm được tiến hành để loại trừ một số bệnh u TQ xâm lấn, xơ hoá TQ hoặc viêm TQ. Đây cũng là các nguyên nhân gây hẹp đoạn dưới TQ.

Để chẩn đoán DES, tốt nhất là chụp TQ có cản quang và đo sức ép TQ được tiến hành ở những bệnh nhân không có triệu chứng.

Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán DES là sự tương quan giữa chứng cớ co thắt TQ và sự kêu ca của bệnh nhân khi ghi sức ép TQ.

Bệnh có điều trị được không?

Hện nay, các nhà y khoa trên thế giới vẫn còn tranh biện để tìm ra phương pháp điều trị tối ưu nhất vì hiệu quả của các phương pháp điều trị hiện thời vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn.

Những bệnh nhân bị nuốt nghẹn thì nên tránh sự găng trong bữa ăn. Nếu có dấu hiệu trào ngược DD-TQ hoặc có bằng chứng về test chức năng TQ thì nên điều trị trào ngược DD-TQ.

Thức ăn mềm, lỏng và chia nhỏ miếng giúp cho bệnh nhân dễ dàng nuốt hơn. Một số loại thuốc cũng có tác dụng cải thiện tình trạng nuốt nghẹn và đau như: thuốc kháng tiết cholin, thuốc giãn cơ trơn, ... Ngoài ra, còn 1 số phương pháp khác để điều trị nhưng kết quả vẫn chưa rõ ràng như nong thực quản bằng que nong hoặc giải phẫu mở TQ ngực.

BS. Phương Anh

0 nhận xét:

Đăng nhận xét